Nước mát cho 4 mùa

Thứ bảy - 11/05/2019 09:17
Hiện tại trên thị trường dễ dàng tìm thấy rất nhiều loại nước giải khát, có hàng cao cấp nhãn mác đầy đủ, cũng có loại bình dân, người bán tự chế biến rồi đóng chai, bán dọc lề đường hè phố. Có rất nhiều sự chọn lựa. Nhưng uống nước mát như thế nào cho đúng với nhu cầu và tình trạng cơ thể? Bởi tuy là nước mát ai cũng có thể mua hoặc tự nấu, nhưng chúng đều là các vị thuốc đông y, nên không phải uống sao cũng được. Thử điểm qua tính chất các vị để nấu nước mát kể trên.  

Rong biển

Rong biển có hàm lượng dinh dưỡng cao, có chứa nhiều khoáng chất, trong đó đặc biệt là lượng Canxi, i-ốt cao, hàm lượng Cholesterol thấp. Ngoài ra, chất fertile clement – là chất không thể thiếu của tuyến giáp trạng, tốt cho thai phụ và trẻ em. Theo y học cổ truyền, rong biển màu đen hoặc xanh, vị mặn, ngọt nhẹ, tính mát, quy vào kinh thận, bổ được thận âm và thận khí. Tạng thận là tạng chủ về thủy – tức là sự tươi mát, dẻo dai của cơ thể. Nước rong biển vì vậy rất thích hợp để bồi dưỡng cho những người gầy yếu, tiêu hóa không tốt, thường cảm thấy nóng lòng bàn tay chân, tiêu bón, da dẻ không mềm mại, khô khát thích uống nước hoài.

Rễ tranh

Theo đông y, rễ cỏ tranh có màu trắng hoặc vàng nhạt, vị ngọt, tính hàn, có công năng thanh nhiệt (làm mát), lợi tiểu, thanh phế nhiệt (làm mát cái nóng ở vùng ngực, dùng tốt trên người có ho mà nóng ran ngực). Do có tính mát lại lợi tiểu, nên người gầy, suy kiệt nhiều hạn chế dùng vì tiểu tiện dễ góp phần giảm lượng nước trong cơ thể thêm, người sẽ càng nóng nảy.

Mía lau

Mía lau thân nhỏ, mảnh hơn so với các loại mía khác, vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, trợ tỳ, kiện vị (giúp ăn ngon miệng), lợi đại tiểu trường (đi tiêu tiểu dễ), làm mát, giảm ho, giảm nóng, giải độc rượu, giải được các sức nóng của thuốc. Đặc biệt mía lau ít gây tác dụng phụ có thể dùng lâu dài. Tuy nhiên, người nóng trong người có ho, gặp lạnh ho lại tăng, thì không nên dùng.


Râu bắp còn có tên gọi là Ngọc mễ tu, có chứa nhiều loại Vitamin. Theo y học cổ truyền, râu bắp có vị ngọt, tính bình, quy kinh thận, bàng quang, có công năng lợi tiểu, tiêu thủng (giảm phù), thông lợi mật, thanh huyết nhiệt (làm giảm nóng nảy, bứt rứt, mụn nhọt). Đối với người mập, tăng acid uric, tăng cholesterol máu dùng râu bắp làm nước uống hằng ngày rất tốt cho sức khỏe.Râu bắp

Bông cúc

Bông cúc (tên thuốc Bắc là Cúc hoa) vị ngọt đắng, tính hơi hàn.Bông cúc có tác dụng giải cảm hạ sốt tiêu viêm, giải độc (làm giảm sưng viêm các mụn nhọt), làm sáng mắt. Vì vậy, bông cúc đặc biệt cần thiết cho những người mắt mờ, mắt hay khô cộm hoặc dễ bị kích ứng mắt, đỏ mắt, mắt nhắm lại thấy nóng, người bị tăng huyết áp nhức mắt, nhức thái dương, nặng nửa đầu, khó ngủ, nửa đêm hay tỉnh. Tuy nhiên, người ăn uống khó tiêu, dễ lạnh bụng, ăn dễ trúng, dễ tiêu chảy, tay chân bủn rủn, yếu sức không nên dùng.
 

Mã đề

Mã đề còn gọi là mã đề thảo, xa tiền thảo, xa tiền tử, nhả én. Tác dụng: tính mát, vị ngọt, quy kinh Can, Phế, tác dụng lợi tiểu, thanh nhiệt. Được dùng làm thuốc thông tiểu, chữa ho lâu ngày, viêm amidal, viêm bàng quang, đau mắt đỏ, tác dụng lợi tiểu, giải độc. Mã đề là một vị phụ thêm vào các loại nước mát, tuy nhiên, không dùng cho người gầy ốm và hay khó tiêu lạnh bụng.

Lẻ bạn (Lão bạn)

Trong Đông y, cây lẻ bạn vị ngọt, nhạt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, chống viêm, cầm máu, nhuận phế, giảm ho, giải độc.


Có tác dụng giải nhiệt, phòng say nắng, khô miệng, mụn nhọt, ban sởi. Ngoài ra, thường ăn bí đao còn có tác dụng giảm cân, rất tốt cho người bị xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành, huyết áp cao, bị phù do viêm thận. Tuy nhiên, tuyệt đối không dùng bí đao sống hoặc nước ép bí đao sống, sẽ gây rối loạn tiêu hóa.Bí đao

Khổ qua

Tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, chống say nắng, sáng mắt, nhất là khi bị kiết lỵ do nóng. Khổ qua mắt to sẽ ít đắng hơn khổ qua đèo. Ngoài ra, trong điều kiện trời nóng, những người dễ bị ra mồ hôi hay bị nổi rôm sảy, ngứa, nấu nước khổ qua tắm một lần mỗi ngày làm giảm ngứa rõ rệt.

Ngoài các vị được kể trên, còn rất nhiều dược vị có tác dụng làm nước mát, vô cùng phong phú để lựa chọn như thuốc dòi, sắn dây, vối, atiso… Tuy nhiên, nên nhớ nguyên tắc chung: vì là “Nước mát” nên có tính lạnh, mát, thường là có các vị đắng nhẹ, lờ lợ hoặc ngọt nhẹ, tính thanh nhiệt, nên người tạng hàn (dễ bị lạnh, dễ cảm, ăn uống hay trúng…) hoặc đang suy nhược cơ thể, cũng cần dùng cẩn thận. Nước mát tác dụng lợi tiểu, vì vậy nếu dùng lâu dài thay nước uống có thể mất cân bằng điện giải, kém hấp thu một số vi khoáng như Canxi, Kali… Dân gian có câu “thuốc bổ có ba phần độc”, dù là tốt, cũng không thể dùng thường xuyên, không có loại nước làm mát nào tốt hơn nước tinh khiết đun sôi để nguội.

Nói tóm lại, với người “tròn trịa” thì râu bắp, mã đề, thuốc dòi, atiso uống thích hợp hơn. Đối với người gầy thì rong biển, dưa hấu… sẽ tốt hơn vì vừa mát vừa sinh được tân dịch làm mềm mại da dẻ. Người gầy, thể chất yếu, hay bị cảm, dễ uể oải, hay mệt, gặp nóng không có tinh thần làm việc, thì kết hợp với mía lau, đường phèn, thuốc dòi, lẻ bạn. Tùy theo mùa mà chọn loại thức uống phù hợp, linh động thay đổi loại thức uống cũng làm phong phú thêm cho thực đơn hàng ngày.

Không chỉ cho Mùa nóng, nước mát - sự hài hòa duyên dáng điểm tô cho cuộc sống trong cả 4 mùa. Thực dưỡng là dùng cách ăn uống đúng theo dưỡng sinh, để nuôi dưỡng sự sống. Đối với việc nấu và uống nước mát, có thể hiểu đơn giản như vậy.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây